VietAlpha Phòng nghiên cứu về kho tư liệu toán học Việt Nam

Chương trình môn Toán GDPT 2018

Chương trình môn Toán là chương trình môn học quốc gia quy định mục tiêu học tập, nội dung và năng lực học sinh bắt buộc ở các cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.1

Chương trình và ba mạch kiến thức.

Chương trình GDPT 2018 được ban hành theo Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 do Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ ký.1 Điều 1 của văn bản quy định này nêu rõ thông tư ban hành chương trình giáo dục phổ thông bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học cho cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông.1 Chương trình môn toán được tổ chức xoay quanh ba mạch kiến thức.2 Ba mạch kiến thức đó là Số và Đại số, Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất.2 Văn bản chương trình toán nêu rằng nội dung tích hợp trong môn học xoay quanh ba mạch kiến thức đó và thông qua các hoạt động thực hành, trải nghiệm trong giáo dục toán học.2

Chương trình môn Toán đặt ra mục tiêu tổng quát là hình thành và phát triển năng lực toán học, bao gồm năm thành tố cốt lõi: năng lực tư duy và lập luận toán học; năng lực mô hình hoá toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lực giao tiếp toán học; và năng lực sử dụng công cụ, phương tiện học toán.15 Các biểu hiện cụ thể của năng lực toán học xuất hiện trong một bảng.15 Bảng này cũng quy định các yêu cầu cần đạt cho mỗi cấp học.15 Đối với tư duy và lập luận trong bảng đó, học sinh tiểu học thực hiện các thao tác tư duy ở mức độ đơn giản và mô tả kết quả quan sát sự giống nhau, khác nhau trong những tình huống quen thuộc.15 Ở cấp trung học cơ sở, học sinh thực hiện các thao tác đó và giải thích sự giống nhau, khác nhau trong nhiều tình huống.15 Học sinh trung học phổ thông, người thực hiện các thao tác này tương đối thành thạo, phát hiện sự giống nhau, khác nhau trong những tình huống tương đối phức tạp và giải thích kết quả quan sát.15

Số tiết giảng dạy.

Thời gian giảng dạy toán hằng năm là 105 tiết ở lớp 1, 175 tiết ở các lớp từ 2 đến 5, 140 tiết ở các lớp từ 6 đến 9 và 105 tiết ở các lớp từ 10 đến 12.2 Ở cấp trung học phổ thông gồm lớp 10, lớp 11 và lớp 12, mỗi lớp có thêm 35 tiết một năm dành cho nội dung chuyên đề học tập lựa chọn.2

Chương trình nêu rõ môn Toán là một trong những môn học có cụm chuyên đề học tập, nhằm phục vụ phân hoá sâu, tăng cường kiến thức và kỹ năng thực hành cho học sinh, vận dụng điều đã học vào các bài toán thực tiễn, và đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp.15 Một chuyên đề học tập đơn lẻ có thời lượng 10 hoặc 15 tiết, và cụm chuyên đề cho một môn học có tổng thời lượng 35 tiết một năm.15 Ở mỗi lớp 10, 11 và 12, học sinh chọn cụm chuyên đề của ba môn học.15 Cụm chuyên đề lớp 10, vốn xoay quanh việc ứng dụng toán học vào các bài toán liên môn và thực tiễn, bao gồm Phương pháp quy nạp toán học, Nhị thức Newton; Hệ phương trình bậc nhất ba ẩn; Ba đường conic và ứng dụng.15 Cụm chuyên đề lớp 11, tập trung vào các bài toán thực tiễn gắn với đồ hoạ và vẽ kĩ thuật, bao gồm Phép biến hình phẳng; Một số yếu tố vẽ kĩ thuật; Làm quen với một số yếu tố của Lí thuyết đồ thị.15 Đối với lớp 12, cụm chuyên đề được cấu trúc xoay quanh các bài toán gắn với kinh tế và tài chính, và nó bao gồm Biến ngẫu nhiên rời rạc và các số đặc trưng của biến ngẫu nhiên rời rạc; Ứng dụng toán học để giải quyết một số bài toán tối ưu; Ứng dụng toán học trong một số vấn đề liên quan đến tài chính.15

Lộ trình triển khai theo từng khối lớp.

Chương trình được áp dụng từ năm học 2020-2021 đối với lớp 1.1 Việc áp dụng tiếp tục diễn ra từ năm học 2021-2022 cho lớp 2 và lớp 6.1 Quá trình triển khai kéo dài sang năm học 2022-2023 đối với các lớp 3, 7 và 10.1 Lịch trình áp dụng tiến xa hơn trong năm học 2023-2024 cho các lớp 4, 8 và 11.1 Giai đoạn cuối của lịch trình áp dụng có hiệu lực từ năm học 2024-2025 đối với các lớp 5, 9 và 12.1

Một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa.

Nghị quyết 88/2014/QH13 thiết lập nền tảng pháp lý cho việc xuất bản sách giáo khoa theo chương trình.3 Nghị quyết này quy định việc biên soạn sách giáo khoa được xã hội hóa, nghĩa là có nhiều sách giáo khoa cho mỗi môn học.3 Dưới cùng nghị quyết đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành tiêu chí đánh giá sách giáo khoa và phê duyệt sách giáo khoa để sử dụng dựa trên đánh giá của hội đồng quốc gia thẩm định sách giáo khoa.3 Nghị quyết cũng quy định bộ hướng dẫn các trường lựa chọn sách giáo khoa.3 Kết nối tri thức với cuộc sống và Chân trời sáng tạo là các bộ sách giáo khoa của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam.4 Các tựa sách toán trong bộ Cánh Diều liên kết với công ty VEPIC và Nhà xuất bản Đại học Sư phạm.5 Điều này đúng với các tựa sách toán đã kiểm tra và không được khái quát hóa cho mọi tựa sách trong bộ, vì các tựa sách Cánh Diều khác nhau có các nhà xuất bản đối tác khác nhau.5

Thông tư 27/2023/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 12 năm 2023, quy định việc lựa chọn sách giáo khoa trong các cơ sở giáo dục phổ thông.16 Có hiệu lực từ ngày 12 tháng 2 năm 2024, thông tư này thay thế Thông tư 25/2020/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 8 năm 2020, văn bản mà theo đó Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hội đồng lựa chọn sách giáo khoa.16 Hai tiêu chí lựa chọn của thông tư này là phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của địa phương và phù hợp với điều kiện tổ chức dạy và học tại cơ sở giáo dục.16

Theo Thông tư 27/2023, hội đồng lựa chọn sách giáo khoa do người đứng đầu cơ sở giáo dục thành lập và giúp người đứng đầu tổ chức thực hiện việc lựa chọn.16 Mỗi cơ sở giáo dục thành lập một hội đồng, và cơ sở giáo dục có nhiều cấp học thành lập một hội đồng cho mỗi cấp học.16 Số lượng thành viên là số lẻ và tối thiểu 11 người, hoặc tối thiểu 5 người đối với cơ sở giáo dục có dưới 10 lớp, bao gồm người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu, tổ trưởng tổ chuyên môn, đại diện giáo viên, và đại diện ban đại diện cha mẹ học sinh.16 Thông tư 10/2025/TT-BGDĐT, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2025, đã sửa đổi thông tư này để cơ sở giáo dục gửi hồ sơ lựa chọn đến Ủy ban nhân dân cấp xã đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở, và đến Sở Giáo dục và Đào tạo đối với cấp trung học phổ thông.17

Kỳ thi tốt nghiệp THPT.

Từ năm 2025, thí sinh thi bốn môn trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, gồm hai môn bắt buộc là ngữ văn và toán, cùng hai môn do thí sinh tự chọn.6 Chính sách này ghi nhận trong nguồn tài liệu ngày 16 tháng 2 năm 2025.6 Quyết định 764/QĐ-BGDĐT ban hành ngày 8 tháng 3 năm 2024 quy định đề thi toán kéo dài 90 phút và gồm 22 câu hỏi chia thành ba phần.7 Phần thứ nhất gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm, phần thứ hai gồm 4 câu hỏi đúng sai và phần thứ ba gồm 6 câu hỏi trả lời ngắn.7 Cục Quản lý Chất lượng thuộc bộ viết ngày 28 tháng 6 năm 2025 nêu rõ kỳ thi năm 2025 là kỳ thi đầu tiên có đề thi xây dựng theo chương trình GDPT 2018, nhằm đánh giá năng lực và phẩm chất của thí sinh.8 Viết vào ngày 15 tháng 6 năm 2026, cục này cho biết kỳ thi năm 2026 diễn ra vào ngày 11 và 12 tháng 6.9 Đánh giá ban đầu do cục báo cáo chỉ ra các đề thi tuân theo chương trình GDPT 2018 cùng cấu trúc và định dạng đã công bố.9

Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT, ngày 24 tháng 12 năm 2024 và có hiệu lực từ ngày 8 tháng 2 năm 2025, ban hành quy chế kỳ thi tốt nghiệp THPT.18 Quy chế quy định từ năm 2026 trở đi, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức kỳ thi với chỉ một loại đề thi.18 Quy chế này tổ chức kỳ thi thành ba buổi thi, gồm một buổi thi môn Ngữ văn, một buổi thi môn Toán, và một buổi thi bài thi tự chọn gồm hai môn học.18 Cục Quản lý chất lượng báo cáo rằng có 1.223.776 thí sinh đăng ký dự thi kỳ thi năm 2026, nhiều hơn 61.642 thí sinh so với năm 2025, và 1.213.695 thí sinh trong số đó đã dự thi, đạt tỷ lệ 99,18 phần trăm.9 Đối với kỳ thi năm 2025, cơ quan này báo cáo có 1.165.289 hồ sơ đăng ký.8

Đánh giá trong nhà trường.

Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, được ban hành ngày 20 tháng 7 năm 2021 và có hiệu lực từ ngày 5 tháng 9 năm 2021, quy định việc đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.20 Văn bản này chỉ đánh giá bằng nhận xét đối với các môn Giáo dục thể chất, Nghệ thuật, Âm nhạc, Mĩ thuật, Nội dung giáo dục của địa phương, và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, ghi nhận kết quả ở một trong hai mức, Đạt hoặc Chưa đạt.19 Mọi môn học khác trong chương trình GDPT 2018, bao gồm môn Toán, được đánh giá bằng nhận xét kết hợp đánh giá bằng điểm số theo thang điểm 10, và thang điểm khác phải được quy đổi về thang điểm này.19

Đánh giá thường xuyên theo thông tư được thực hiện thông qua hỏi đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, và sản phẩm học tập.19 Số điểm đánh giá thường xuyên của một môn học trong một học kỳ phụ thuộc vào thời lượng dạy học hằng năm: môn học có 35 tiết một năm có 2 điểm, môn học có trên 35 tiết đến 70 tiết có 3 điểm, và môn học có trên 70 tiết có 4 điểm.19 Mỗi môn học như vậy có một điểm đánh giá giữa kỳ và một điểm đánh giá cuối kỳ trong mỗi học kỳ.19 Đánh giá định kì không áp dụng đối với cụm chuyên đề học tập.19

Chi phí và quy định về dạy thêm học thêm.

Tổng cục Thống kê báo cáo thu nhập bình quân đầu người mỗi tháng năm 2024 đạt 5,4 triệu đồng trên toàn quốc, 6,9 triệu đồng ở khu vực thành thị và 4,5 triệu đồng ở khu vực nông thôn.10 Báo cáo Khảo sát Kinh tế OECD: Việt Nam 2025 nêu rõ rằng "các gia đình giàu nhất chi trung bình gấp 5,6 lần so với các gia đình nghèo nhất cho các khóa học bổ trợ ngoài hệ thống trường học, một khoảng cách kéo dài lên gấp 10 lần ở bậc trung học".11 OECD quy kết phát hiện đó cho Ngân hàng Thế giới vào năm 2016.11 Trong năm học 2024-2025, Việt Nam có 18,6 triệu học sinh phổ thông, bao gồm 8,75 triệu ở cấp tiểu học, 6,7 triệu ở trung học cơ sở và 3,1 triệu ở trung học phổ thông.12 Một bản công bố trước đó vào tháng 12 năm 2024 đưa ra con số hơn 18,5 triệu học sinh, với các số liệu đến từ những lần công bố khác nhau và trang này sử dụng bản công bố tháng 7 năm 2025.12 Theo con số tự công bố của VietAlpha, dịch vụ luyện thi một kèm một cao cấp tại Việt Nam có thể tốn tới 7,2 triệu đồng một tháng cho một môn học. Hoạt động dạy thêm học thêm được điều chỉnh bởi Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2024 và có hiệu lực từ ngày 14 tháng 2 năm 2025.13 Thông tư này quy định không tổ chức dạy thêm đối với học sinh tiểu học, trừ các trường hợp bồi dưỡng về nghệ thuật, thể dục thể thao và kỹ năng sống.13 Giáo viên đang công tác tại trường không được dạy thêm có trả tiền ngoài nhà trường đối với học sinh mà trường đã phân công giảng dạy.13 Giáo viên tại các trường công lập không được quản lý hoặc điều hành hoạt động dạy thêm ngoài nhà trường.13 Việc dạy thêm trong nhà trường không được thu tiền của học sinh và bị giới hạn ở ba nhóm.14 Ba nhóm đó là học sinh có kết quả học tập cuối kỳ môn học dưới mức yêu cầu, học sinh được nhà trường chọn bồi dưỡng nâng cao và học sinh cuối cấp tình nguyện ôn tập thi tuyển sinh hoặc thi tốt nghiệp.14 Hoạt động dạy thêm có trả tiền ngoài nhà trường phải đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật.14

Lý do nhãn chương trình quan trọng đối với phòng nghiên cứu này.

Chương trình toán vạch ra nội dung theo ba mạch kiến thức, gồm Số và Đại số, Hình học và Đo lường, Thống kê và Xác suất.2 Mỗi lớp mang một số tiết dạy học quy định.2 Trong đợt tìm kiếm tháng 7 năm 2026, VietAlpha không tìm thấy bộ dữ liệu toán học tiếng Việt công khai nào có giấy tờ hoặc thẻ ghi rõ sự liên kết với chương trình này, và không có bộ nào được dán nhãn ở cấp độ đơn vị chương trình. Một cấu trúc như cấu trúc trong chương trình toán là thứ mà nhãn theo từng mục sẽ tham chiếu tới. Phòng nghiên cứu vận hành một quy trình tên là Cadmus tạo ra các bản ghi có cấu trúc, được xác minh và gắn nhãn chương trình qua mười một giai đoạn. LumiToán là phần mềm miễn phí và theo số đếm tự tính của phòng nghiên cứu, hơn 10.000 học sinh sử dụng ứng dụng này mỗi tháng tính đến giữa năm 2026. Hoạt động nghiên cứu toán học ở Việt Nam do các viện, trường đại học và một chương trình quốc gia thực hiện, đây là môn chủ đề tách biệt với việc giảng dạy trong nhà trường nên phòng nghiên cứu duy trì một trang riêng biệt về vấn đề này. Phòng nghiên cứu cũng nghiên cứu văn bản viết cổ hơn thuộc về lịch sử toán học Việt Nam.

Nguồn.

  1. Ministry of Education and Training, consolidated text of Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT

    Article 1, which promulgates the general education programme comprising the overall programme and the subject programmes, and the article setting the year-by-year adoption schedule from 2020-2021 to 2024-2025. The circular's date of 26 December 2018 and its signatory are recorded on the instrument.

  2. Chương trình giáo dục phổ thông môn Toán, annexed to Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT

    The three strands of the mathematics programme, its statement about integration within the subject and through practical and experiential activities, the table of annual teaching periods by grade, and the additional 35 periods a year for elective topic studies at upper secondary.

  3. National Assembly Resolution 88/2014/QH13

    The socialisation of textbook writing with several textbooks per subject, the Ministry's issuing of evaluation criteria and approval of textbooks on the basis of the national appraisal council, and its guidance on textbook selection in schools.

  4. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam

    The publisher's statement that Kết nối tri thức với cuộc sống and Chân trời sáng tạo are its textbook series.

  5. VEPIC, product page for a Cánh Diều mathematics title

    The association of a Cánh Diều mathematics title with VEPIC and with Nhà xuất bản Đại học Sư phạm. Cited for the mathematics titles checked only, because other Cánh Diều titles carry different partner publishers.

  6. Xây dựng chính sách, pháp luật (Government policy portal), Cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT từ năm 2025

    The four-subject examination from 2025, with Ngữ văn and Toán compulsory and two subjects chosen by the candidate. The page is dated 16 February 2025.

  7. Quyết định 764/QĐ-BGDĐT of 8 March 2024, examination structure and format

    The mathematics paper at 90 minutes and 22 questions in three parts of 12, 4 and 6 questions.

  8. Ministry of Education and Training, Quality Management Department, 28 June 2025

    The department's statement that the 2025 examination was the first whose papers were built to the new general education programme, and its figure of 1,165,289 registration files for 2025.

  9. Ministry of Education and Training, Quality Management Department, 15 June 2026

    The 2026 examination dates of 11 and 12 June, the department's initial assessment that the papers followed the 2018 programme and the published format, and its figures of 1,223,776 candidates registered, 61,642 more than in 2025, with 1,213,695 sitting at a rate of 99.18 per cent.

  10. General Statistics Office, Khảo sát mức sống dân cư 2024

    Monthly income per person in 2024: 5.4 million đồng nationally, 6.9 million in urban areas and 4.5 million in rural areas.

  11. OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025

    The quoted sentence on spending by the wealthiest and poorest families on additional courses outside the school system. The survey attributes the finding to World Bank (2016b), and this page says so.

  12. General Statistics Office, statistical release, July 2025

    The 18.6 million general education pupils in 2024-2025 and the breakdown by level. A December 2024 release gave more than 18.5 million; this page uses the later figure and records the difference.

  13. Xây dựng chính sách, pháp luật, Nguyên tắc dạy thêm, học thêm

    Thông tư 29/2024/TT-BGDĐT, its issue date of 30 December 2024 and effect from 14 February 2025, the prohibition on organised extra teaching for primary pupils with the stated exceptions, and the restrictions on teachers teaching their own assigned pupils for payment and on public-school teachers running outside tutoring.

  14. Xây dựng chính sách, pháp luật, Quy định về dạy thêm, học thêm trong nhà trường và ngoài nhà trường

    The rule that extra teaching inside a school may not charge pupils, the three groups it is limited to, and the requirement that paid tutoring outside a school register as a business.

  15. Full text of the general education programme issued with Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT

    The mathematics programme's general objective and the five components of năng lực toán học; its statement that the manifestations of mathematical competence and the yêu cầu cần đạt for each level are set out in a table, and the primary, lower secondary and upper secondary rows of that table for thinking and reasoning; the stated purpose of the chuyên đề học tập, the rule that one topic is 10 or 15 periods and a subject's cluster totals 35 periods a year, and the topic titles listed for mathematics at Grades 10, 11 and 12.

  16. Thông tư 27/2023/TT-BGDĐT of 28 December 2023, on textbook selection in general education institutions

    The circular's date, its effect from 12 February 2024 and its replacement of Thông tư 25/2020/TT-BGDĐT, the two selection criteria in Article 3, and Article 4 on the selection council: who establishes it, one council per institution and per level of schooling, and its size and composition.

  17. Xây dựng chính sách, pháp luật, full text of Thông tư 10/2025/TT-BGDĐT

    Article 16, which amends Article 7(5) of Thông tư 27/2023 so that an institution files its textbook selection with the commune People's Committee for the primary and lower secondary levels and with the provincial Department of Education and Training for upper secondary, and Article 23, which puts the circular in force from 1 July 2025.

  18. Xây dựng chính sách, pháp luật, full text of Thông tư 24/2024/TT-BGDĐT

    The circular's date of 24 December 2024 and its effect from 8 February 2025; Article 2(3), which provides for a single type of examination paper from 2026; and Article 3 of the regulation, which sets the three sittings including the mathematics sitting.

  19. Text of Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT on the assessment of lower and upper secondary pupils

    Article 5, which lists the subjects assessed by comment alone with the levels Đạt and Chưa đạt and puts every other subject in the programme on comment combined with marks on a scale of 10; Article 6 on the forms of regular assessment and the number of regular marks by annual teaching time; and Article 7 on periodic assessment, its exclusion of the cluster of study topics, and the one mid-term and one end-of-term mark per term.

  20. Công báo, register entry for Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT

    The gazette record giving the issue date of 20 July 2021 and the date of effect of 5 September 2021.

Một chương trình, nhiều bộ sách giáo khoa và không có bộ dữ liệu công khai cho biết một mục thuộc về đơn vị nào.